Yêu cầu khởi kiện là danh sách cụ thể những gì bạn đề nghị toà buộc bên kia làm: trả bao nhiêu tiền gốc, bao nhiêu tiền lãi tính tới ngày nào, có phạt vi phạm không, bồi thường khoản thiệt hại nào, giao lại tài sản gì. Toà chỉ xét trong phạm vi bạn yêu cầu; đòi thiếu thì phần không đòi coi như bỏ, đòi thừa thì phần không được chấp nhận có thể khiến bạn chịu án phí tương ứng.
Vì vậy việc chốt yêu cầu nên làm trước khi viết đơn, bằng một bảng tính riêng, mỗi khoản đi kèm căn cứ. Bài này hướng dẫn bóc từng loại khoản tiền hay gặp trong vụ đòi nợ, vi phạm hợp đồng, bồi thường giữa cá nhân và chủ hộ kinh doanh nhỏ; nội dung đơn và cách nộp thuộc chuyên mục khác của trang.
Vì sao phải chốt yêu cầu trước khi viết đơn
Toà án dân sự hoạt động theo nguyên tắc tự định đoạt: bạn quyết định đòi gì, đòi bao nhiêu, toà xét trong phạm vi đó. Nếu bạn quên đòi tiền lãi, toà không tự cộng thêm. Nếu bạn đòi một khoản bồi thường mà không chứng minh được thiệt hại, toà bác phần đó.
Chuyện tiền bạc ở đây có hai mặt. Mặt thứ nhất là tạm ứng án phí: với tranh chấp về tài sản có giá ngạch, mức tạm ứng phụ thuộc vào giá trị bạn yêu cầu, nên con số trong đơn ảnh hưởng ngay số tiền phải nộp trước. Mặt thứ hai là án phí cuối cùng: theo nguyên tắc của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 về án phí, lệ phí toà án, đương sự phải chịu án phí đối với phần yêu cầu của mình không được toà chấp nhận. Mức cụ thể tính theo biểu của nghị quyết, bài này không nêu con số.
Ngoài tiền, yêu cầu còn quyết định thẩm quyền và độ phức tạp của vụ án. Gộp quá nhiều yêu cầu khác loại vào một đơn có thể làm toà phải tách vụ, hoặc kéo theo việc định giá, giám định không cần thiết. Một yêu cầu gọn, có căn cứ, thường đi nhanh hơn một yêu cầu dài mà lỏng.
Tiền gốc: con số nền phải chứng minh được
Lấy số tiền đã thực giao, không lấy số hứa hẹn. Với khoản vay, tiền gốc là số tiền bên vay đã thực nhận. Giấy vay ghi một số nhưng thực tế chuyển ít hơn, hoặc trừ lãi trước, thì nên ghi đúng thực tế và giải thích. Toà sẽ đối chiếu sao kê, biên nhận.
Trừ các khoản đã trả. Liệt kê từng lần bên kia đã trả, ngày nào, bao nhiêu, trả vào gốc hay vào lãi. Nếu không có thoả thuận khoản trả đó trừ vào đâu, cần ghi rõ cách bạn đang tính và lý do; chỗ này hay bị tranh cãi ở phiên hoà giải.
Với hợp đồng mua bán, dịch vụ. Tiền gốc là giá trị phần hàng đã giao, việc đã làm mà chưa được thanh toán. Biên bản giao nhận, nghiệm thu, đối chiếu công nợ là căn cứ chính. Giá trị phần chưa giao thì không đòi tiền được, chỉ có thể yêu cầu khác như huỷ hợp đồng, đòi lại tiền cọc.
Với đòi lại tài sản. Yêu cầu nên là giao trả chính tài sản đó, mô tả đủ để nhận dạng; chỉ đòi trị giá bằng tiền khi tài sản không còn hoặc bạn chấp nhận nhận tiền. Khi đó có thể phải định giá, phát sinh chi phí tố tụng.
Tiền lãi: có thoả thuận hay không, tính tới ngày nào
Nếu hợp đồng vay có thoả thuận lãi suất, Bộ luật Dân sự 2015 đặt mức trần cho vay giữa các bên không phải tổ chức tín dụng là không vượt quá 20%/năm của khoản tiền vay, trừ khi luật khác có quy định riêng. Phần lãi vượt trần không có hiệu lực, toà sẽ không chấp nhận. Ghi trong đơn một mức lãi cao hơn trần chỉ làm tăng phần bị bác.
Nếu vay không có lãi mà bên vay chậm trả, bạn vẫn có thể yêu cầu tiền lãi do chậm trả tính trên số tiền chậm trả, theo mức luật định. Nếu có thoả thuận trả lãi nhưng không ghi rõ mức, luật cũng có cách xác định. Những quy tắc này chi tiết hơn phạm vi một bài nhắc việc; điều quan trọng là bạn ghi rõ trong đơn: lãi trong hạn tính từ ngày nào tới ngày nào theo mức nào, lãi chậm trả tính từ ngày nào, và ước tính tới ngày nộp đơn.
Một mẹo trình bày giúp phiên hoà giải dễ hơn: tách bảng lãi thành từng giai đoạn, mỗi giai đoạn một dòng gồm số dư gốc, số ngày, mức lãi áp dụng, thành tiền. Thẩm phán và bên kia nhìn vào đó thấy ngay chỗ đồng ý, chỗ còn tranh cãi, thay vì một con số tổng không rõ từ đâu ra.
Ví dụ giả định: chị Lan cho người quen vay một khoản không ghi lãi, hẹn trả sau sáu tháng. Quá hạn mà không trả, chị chỉ có căn cứ đòi lãi chậm trả từ sau ngày đến hạn, không đòi được lãi cho sáu tháng đầu vì không có thoả thuận.
Phạt vi phạm và bồi thường thiệt hại: hai khoản khác nhau
Nhiều người gộp chung "tiền phạt" với "tiền đền". Thực ra đây là hai chế tài khác nhau, căn cứ khác nhau và cách chứng minh khác nhau.
| Phạt vi phạm | Bồi thường thiệt hại | |
|---|---|---|
| Căn cứ | Phải có thoả thuận phạt trong hợp đồng | Có thiệt hại thực tế do vi phạm gây ra |
| Phải chứng minh | Có vi phạm và có điều khoản phạt | Có vi phạm, có thiệt hại, mối liên hệ nhân quả |
| Mức | Hợp đồng dân sự: theo thoả thuận; hợp đồng thương mại: Luật Thương mại giới hạn không quá 8% giá trị phần nghĩa vụ bị vi phạm (trừ một số ngoại lệ) | Theo thiệt hại chứng minh được |
| Đòi cùng lúc được không | Tuỳ thoả thuận và loại hợp đồng | Tuỳ thoả thuận và loại hợp đồng |
Với hợp đồng dân sự, nếu các bên chỉ thoả thuận phạt mà không nói tới bồi thường, thì thường chỉ phải nộp phạt; muốn đòi cả hai cần có thoả thuận. Với hợp đồng thương mại, khi đã có điều khoản phạt, bên bị vi phạm thường được đòi cả phạt và bồi thường. Đọc kỹ điều khoản của chính hợp đồng mình trước khi ghi.
Thiệt hại phải là thiệt hại có thật và tính được: tiền thuê kho phát sinh, khoản lợi nhuận bị mất có căn cứ, chi phí sửa chữa có hoá đơn. "Thiệt hại uy tín" hay "tổn thất cơ hội" chung chung rất khó được chấp nhận nếu không có số liệu.
Yêu cầu không phải tiền: giao tài sản, huỷ hợp đồng, buộc thực hiện
Không phải vụ nào cũng quy ra tiền. Bạn có thể yêu cầu toà buộc bên kia giao trả chiếc xe, trả lại mặt bằng thuê, tiếp tục thực hiện hợp đồng, tuyên bố hợp đồng vô hiệu, huỷ bỏ hợp đồng và hoàn trả những gì đã nhận. Mỗi loại yêu cầu kéo theo hệ quả khác nhau, và cũng ảnh hưởng tới cách tính án phí: tranh chấp không có giá ngạch tính khác với tranh chấp có giá ngạch.
Điều quan trọng là yêu cầu phải thi hành được. "Buộc bên B chấm dứt hành vi gây khó khăn" là câu không ai thi hành nổi; "buộc bên B tháo dỡ phần mái tôn lấn sang không gian phía trên lối đi chung, trả lại hiện trạng" thì cơ quan thi hành án biết phải làm gì. Hãy viết yêu cầu sao cho một người lạ đọc vào cũng biết cụ thể phải giao cái gì, làm việc gì, ở đâu.
Nhiều vụ nên có cả yêu cầu chính và yêu cầu dự phòng hợp lý, ví dụ đòi giao trả tài sản, nếu tài sản không còn thì trả giá trị tương đương. Cách trình bày cụ thể nên trao đổi với người làm nghề, vì không phải lúc nào toà cũng chấp nhận cách ghi lựa chọn.
Những khoản nên cân nhắc kỹ trước khi đưa vào đơn
Một số khoản người khởi kiện hay muốn đòi nhưng tỷ lệ được chấp nhận thấp, hoặc thuộc thủ tục khác:
- Chi phí thuê luật sư. Không mặc nhiên đòi được bên thua trả; chỉ trong một số trường hợp luật quy định hoặc các bên có thoả thuận. Bài về án phí và chi phí tố tụng trên trang nói kỹ hơn.
- Tiền đi lại, mất ngày công để theo kiện. Khó được chấp nhận nếu không thuộc chi phí tố tụng theo luật và không có chứng từ.
- Bồi thường tổn thất tinh thần trong tranh chấp hợp đồng thuần tuý. Thường gắn với xâm phạm sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, uy tín; trong vụ đòi nợ hay mua bán thông thường hiếm được xét.
- Yêu cầu xử lý hình sự, phạt hành chính bên kia. Toà dân sự không giải quyết việc này; muốn tố giác thì gửi cơ quan có thẩm quyền theo đường riêng.
- Yêu cầu "xin lỗi công khai". Chỉ có cơ sở trong một số tranh chấp về danh dự, uy tín; không phải khoản đòi phổ biến trong vụ tiền bạc.
Nếu vẫn muốn đưa vào, hãy tách riêng từng khoản với căn cứ, để phần bị bác (nếu có) không kéo theo nghi ngờ với những khoản chính đáng.
Lập bảng yêu cầu trước khi viết đơn
Một bảng yêu cầu tốt giúp đơn ngắn gọn và giúp bạn biết chính xác mình có thể nhượng bộ đến đâu ở phiên hoà giải.
- Liệt kê mọi khoản bạn nghĩ mình có quyền đòi, mỗi khoản một dòng.
- Ghi căn cứ cho từng khoản: điều khoản hợp đồng, giấy vay, biên bản, hoá đơn, tin nhắn xác nhận.
- Gạch những khoản không có căn cứ hoặc thuộc đường khác (hình sự, hành chính).
- Tính lại tiền gốc sau khi trừ các khoản đã trả; tính lãi theo từng giai đoạn với mức không vượt giới hạn luật.
- Tách phạt vi phạm và bồi thường; kiểm tra hợp đồng có cho đòi cả hai không.
- Cộng tổng và ghi rõ đây là số tính đến ngày nộp đơn, lãi tiếp tục tính tới ngày xét xử nếu có căn cứ.
- Đánh dấu khoản "cứng" (chắc chắn) và khoản "mềm" (có thể nhượng) để chuẩn bị cho hoà giải.
Trong quá trình giải quyết, bạn vẫn có thể thay đổi, bổ sung yêu cầu, nhưng không được vượt quá phạm vi yêu cầu ban đầu sau những mốc nhất định của tố tụng. Chuẩn bị kỹ ngay từ đầu đỡ phải xin sửa về sau.
Câu hỏi thường gặp
Đòi tiền lãi cao hơn 20%/năm theo giấy vay đã ký thì toà xử thế nào?
Với khoản vay giữa các bên không phải tổ chức tín dụng, phần lãi vượt mức trần theo Bộ luật Dân sự không có hiệu lực. Toà sẽ tính lại theo mức không vượt trần, phần vượt bị bác và có thể kéo theo án phí phần không được chấp nhận. Nên tự tính lại trước khi ghi vào đơn.
Không có giấy tờ ghi lãi thì có đòi lãi được không?
Không đòi được lãi trong hạn nếu hai bên không thoả thuận trả lãi. Nhưng khi bên vay chậm trả sau ngày đến hạn, bạn có thể yêu cầu tiền lãi do chậm trả trên số tiền chậm trả, theo mức luật quy định. Cần chứng minh được ngày đến hạn.
Có nên đòi nhiều hơn để còn chỗ thương lượng?
Không nên. Phần yêu cầu không được chấp nhận có thể khiến bạn chịu án phí tương ứng, và một con số phóng đại làm giảm độ tin cậy của cả đơn. Chỗ thương lượng nên nằm ở những khoản có căn cứ nhưng chưa chắc, như lãi chậm trả, chứ không ở việc thổi phồng tiền gốc.
Sau khi nộp đơn có được tăng số tiền yêu cầu không?
Bạn có quyền thay đổi, bổ sung yêu cầu, nhưng luật giới hạn phạm vi và thời điểm. Tiền lãi phát sinh thêm theo thời gian thường được cập nhật; còn thêm một khoản đòi hoàn toàn mới có thể bị coi là vượt phạm vi khởi kiện ban đầu và phải kiện riêng.
Đòi tiền thuê luật sư từ bên kia được không?
Chi phí luật sư không mặc nhiên do bên thua chịu. Chỉ trong một số trường hợp luật quy định hoặc khi hợp đồng giữa hai bên có điều khoản về chi phí này. Nếu muốn đòi, ghi thành một khoản riêng kèm căn cứ và chứng từ thanh toán hợp lệ.
Tiền cọc mua đất bị bên bán huỷ thì đòi những khoản nào?
Thông thường bạn có thể yêu cầu trả lại tiền cọc và một khoản tiền tương đương giá trị cọc nếu các bên không có thoả thuận khác, theo quy định về đặt cọc của Bộ luật Dân sự. Đọc kỹ giấy cọc vì thoả thuận riêng có thể khác. Thiệt hại khác phải chứng minh thêm.