Án phí có giá ngạch là án phí của vụ án mà yêu cầu của đương sự là một số tiền, hoặc là tài sản xác định được giá trị bằng tiền; án phí không có giá ngạch là án phí của vụ án mà yêu cầu không phải số tiền và không định giá được bằng tiền. Vụ đòi nợ, đòi bồi thường, chia tài sản thường có giá ngạch. Vụ yêu cầu tuyên bố hợp đồng vô hiệu mà không đòi tiền, yêu cầu chấm dứt hành vi cản trở, yêu cầu xác định ai là chủ sở hữu mà toà không xét đến giá trị thường không có giá ngạch.
Phân loại này quyết định cách tính tạm ứng án phí lúc đầu và án phí lúc cuối. Với vụ có giá ngạch, số tiền phụ thuộc vào giá trị yêu cầu và tăng theo các khung giá trị trong biểu án phí. Với vụ không có giá ngạch, mỗi loại vụ có một mức cố định. Bài này không nêu mức tiền; mục đích là giúp bạn tự xác định vụ của mình thuộc nhóm nào, để đọc đúng thông báo của toà và lường trước chi phí. Biểu án phí cụ thể nằm trong Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 và văn bản sửa đổi, thay thế nếu có.
Vì sao pháp luật chia án phí thành hai nhóm
Án phí là khoản đương sự đóng góp vào chi phí nhà nước bỏ ra để giải quyết vụ án. Với tranh chấp về tiền và tài sản, pháp luật lấy giá trị đang tranh chấp làm thước đo: tranh chấp càng lớn thì phần đóng góp càng lớn, giống cách nhiều loại lệ phí khác gắn với giá trị giao dịch. Cách này cũng khiến người khởi kiện cân nhắc mức yêu cầu, vì đòi càng cao mà bị bác thì án phí phải chịu càng nhiều.
Nhưng không phải tranh chấp nào cũng quy ra tiền được. Ai là cha của đứa trẻ, một hợp đồng có hiệu lực hay không, hàng xóm có được tiếp tục đổ đất lấn lối đi hay không là những câu hỏi về quyền và quan hệ, không phải về một con số. Với nhóm này, pháp luật đặt một mức án phí cố định cho từng loại, không phụ thuộc giá trị.
Trong biểu án phí, ngoài việc chia có và không có giá ngạch, còn chia theo loại vụ án: dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh thương mại, lao động. Mỗi loại có cách tính riêng. Vụ đòi nợ giữa hai cá nhân là vụ dân sự; vụ đòi tiền hàng giữa hai công ty cùng mục đích lợi nhuận thường là vụ kinh doanh thương mại. Hai vụ cùng có giá ngạch, cùng giá trị yêu cầu vẫn có thể có mức án phí khác nhau vì khác loại.
Bảng ví dụ phân loại thường gặp
Bảng dưới là ví dụ giả định để bạn hình dung, không thay cho việc toà xác định trong từng vụ cụ thể. Cùng một tranh chấp có thể chuyển nhóm tuỳ theo cách bạn viết yêu cầu.
| Yêu cầu khởi kiện | Nhóm thường gặp | Ghi chú |
|---|---|---|
| Đòi trả khoản vay và tiền lãi | Có giá ngạch | Giá trị tính trên tổng số tiền yêu cầu |
| Đòi bồi thường thiệt hại tài sản do hàng xóm sửa nhà gây nứt tường | Có giá ngạch | Giá trị tính trên số tiền bồi thường yêu cầu |
| Tuyên bố hợp đồng mua bán vô hiệu, không đòi gì thêm | Không có giá ngạch | Nếu đòi kèm hoàn trả tiền thì phần hoàn trả có giá ngạch |
| Buộc tháo dỡ phần mái lấn sang không gian nhà mình | Thường không có giá ngạch | Nếu kèm đòi bồi thường thì phần bồi thường có giá ngạch |
| Xác định quyền sử dụng một thửa đất thuộc về ai, toà không xét giá trị | Thường không có giá ngạch | Toà chỉ xác định quyền, không chia giá trị |
| Chia tài sản chung, chia thừa kế là nhà đất | Có giá ngạch | Mỗi người chịu theo giá trị phần mình được chia |
| Yêu cầu trả lại tài sản đã giao (một chiếc xe cụ thể) | Có giá ngạch | Giá trị tài sản được xác định, có thể qua định giá |
Lưu ý dòng thứ năm và sáu: cùng là nhà đất nhưng khác hẳn nhau. Khi toà chỉ trả lời câu hỏi "đất này của ai" mà không xét giá trị, án phí thường tính như vụ không có giá ngạch. Khi toà phải xác định giá trị để chia, hoặc buộc một bên thanh toán giá trị cho bên kia, án phí tính theo giá trị.
Vụ có nhiều yêu cầu thì tính thế nào
Tính riêng từng yêu cầu. Một đơn khởi kiện có thể gồm vài yêu cầu thuộc các nhóm khác nhau. Ví dụ giả định: bạn yêu cầu huỷ hợp đồng đặt cọc và đòi lại tiền cọc kèm tiền phạt cọc. Phần huỷ hợp đồng có thể là không có giá ngạch, phần đòi tiền là có giá ngạch. Toà xem xét án phí cho từng phần theo nguyên lý tương ứng.
Yêu cầu chính và yêu cầu đi kèm. Có những yêu cầu chỉ là hệ quả của yêu cầu chính, ví dụ tuyên bố hợp đồng vô hiệu và buộc các bên hoàn trả cho nhau những gì đã nhận. Phần hoàn trả là tiền hoặc tài sản nên thường có giá ngạch. Đây là chỗ nhiều người bất ngờ vì nghĩ mình chỉ "xin huỷ hợp đồng".
Phản tố tính riêng. Yêu cầu phản tố của bị đơn và yêu cầu độc lập của người liên quan được phân loại riêng, không gộp vào yêu cầu của nguyên đơn.
Đổi, bổ sung yêu cầu giữa chừng. Khi bạn thay đổi hoặc bổ sung yêu cầu, nhóm án phí có thể đổi theo. Thêm một khoản đòi tiền vào vụ đang không có giá ngạch là thêm một phần có giá ngạch, thường kéo theo nộp thêm tạm ứng.
Giá trị tài sản tranh chấp được xác định ra sao
Với vụ có giá ngạch, câu hỏi tiếp theo là giá trị bao nhiêu. Khi yêu cầu là một số tiền cụ thể, giá trị chính là số tiền đó. Khi yêu cầu là tài sản như nhà, đất, xe, hàng hoá, giá trị có thể do các bên thống nhất, hoặc phải qua định giá khi các bên không thống nhất hoặc khi toà thấy cần. Chi phí định giá là một khoản riêng, có quy tắc riêng về ai ứng trước và ai chịu, không gộp vào án phí.
Ở đầu vụ án, nếu chưa có giá trị chính xác, toà thường tạm tính tạm ứng án phí theo quy định để thụ lý. Đến khi có kết quả định giá hoặc các bên thống nhất được giá, án phí cuối cùng trong bản án tính theo giá trị đã được xác định. Vì vậy người cố tình khai thấp giá trị để nộp tạm ứng ít không được lợi gì về lâu dài, còn có thể bị chậm vì phải bổ sung.
Cũng cần phân biệt giá trị tranh chấp với giá trị phần được chấp nhận. Án phí người thua phải chịu tính trên phần nghĩa vụ bị buộc thực hiện hoặc phần yêu cầu bị bác, không tính trên toàn bộ giá trị vụ án một cách máy móc. Hai bên cùng tham gia một vụ án lớn chưa chắc phải chịu án phí lớn như nhau.
Giá ngạch chỉ là chuyện của án phí sơ thẩm
Phân biệt có và không có giá ngạch chủ yếu có ý nghĩa với án phí sơ thẩm và tạm ứng án phí sơ thẩm. Theo biểu án phí hiện hành, án phí phúc thẩm được quy định theo mức cố định cho từng loại vụ án, không tính theo giá trị tranh chấp. Vì vậy người kháng cáo một bản án đòi tiền lớn không phải nộp tạm ứng án phí phúc thẩm theo giá trị như lúc khởi kiện. Chuyện kháng cáo là bước sau sơ thẩm, ở đây chỉ nhắc để bạn không nhầm hai khoản.
Lệ phí giải quyết việc dân sự, ví dụ yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn, yêu cầu tuyên bố một người mất tích, cũng không tính theo giá ngạch mà theo mức cố định của từng loại việc. Còn các khoản lệ phí nhỏ khác như cấp bản sao bản án, sao chụp tài liệu có mức riêng.
Biết điều này giúp bạn ước lượng đúng tổng chi phí của cả quá trình. Phần lớn chênh lệch về tiền giữa các vụ án nằm ở án phí sơ thẩm có giá ngạch và các chi phí tố tụng như định giá, giám định, chứ không nằm ở các khoản lệ phí cố định. Cũng vì vậy, việc đặt yêu cầu sơ thẩm cho sát thực tế là chỗ đáng bỏ công nhất.
Tự xác định nhóm án phí cho vụ của mình
Trước khi nộp đơn, bạn có thể tự đi qua các bước sau để hình dung án phí, rồi hỏi lại bộ phận tiếp nhận đơn của toà để chắc chắn:
- Viết ra từng yêu cầu bạn muốn toà giải quyết, mỗi yêu cầu một dòng. Đừng gộp kiểu "đòi quyền lợi".
- Với mỗi dòng, hỏi: kết quả mình muốn là một số tiền, một tài sản xác định được giá, hay chỉ là một tuyên bố, một hành vi phải làm hoặc phải dừng?
- Đánh dấu dòng nào có giá ngạch, dòng nào không. Với tài sản, ghi giá trị bạn ước tính và căn cứ ước tính.
- Xác định loại vụ: dân sự, hôn nhân gia đình, kinh doanh thương mại hay lao động. Tranh chấp giữa hai bên đều kinh doanh vì lợi nhuận thường là kinh doanh thương mại.
- Đối chiếu biểu án phí trong văn bản đang có hiệu lực để hình dung khoảng tiền. Nếu thấy mình có thể thuộc diện được miễn, chuẩn bị đơn đề nghị miễn.
- Khi nhận thông báo nộp tạm ứng, so con số với hình dung của mình. Chênh lệch lớn thì hỏi toà căn cứ tính.
Với vụ đất đai, nhà ở, tài sản chung nhiều người, việc phân loại có thể phức tạp hơn bảng ví dụ. Những vụ như vậy nên nhờ người có chuyên môn xem trước cách đặt yêu cầu.
Hiểu lầm hay gặp về giá ngạch
Một số cách nghĩ phổ biến dẫn tới tính sai chi phí hoặc đặt yêu cầu không có lợi:
- "Vụ không có giá ngạch thì rẻ hơn nên cứ bỏ phần đòi tiền đi." Bỏ yêu cầu đòi tiền là bỏ quyền được toà giải quyết khoản tiền đó trong vụ này; tiết kiệm án phí không đáng bằng mất quyền.
- "Án phí tính trên toàn bộ giá trị căn nhà dù mình chỉ đòi một phần." Án phí tính trên giá trị phần yêu cầu và phần được chấp nhận, không mặc nhiên trên cả tài sản.
- "Vụ đất nào cũng có giá ngạch." Như đã nói, khi toà chỉ xác định quyền mà không xét giá trị thì cách tính khác.
- "Khai giá thấp để đỡ tạm ứng." Án phí cuối cùng vẫn theo giá trị được xác định; khai thấp chỉ làm hồ sơ phải sửa đi sửa lại.
- "Cứ nộp đơn, toà sẽ tự sửa yêu cầu cho đúng." Toà không viết hộ yêu cầu; toà có thể yêu cầu bạn sửa đổi, bổ sung đơn, nhưng nội dung yêu cầu vẫn do bạn quyết định.
Đặt yêu cầu đúng ngay từ đầu vừa giúp tính đúng án phí, vừa giúp vụ án đi nhanh hơn vì toà không phải hỏi lại nhiều lần.
Câu hỏi thường gặp
Làm sao biết vụ của mình có giá ngạch hay không?
Nhìn vào yêu cầu bạn đưa ra. Nếu yêu cầu là một số tiền hoặc một tài sản xác định được giá trị bằng tiền, thường là có giá ngạch. Nếu yêu cầu là tuyên bố một quan hệ, một hợp đồng, hoặc buộc làm hay dừng một hành vi mà không đòi tiền, thường là không có giá ngạch. Toà sẽ xác định chính thức khi thông báo nộp tạm ứng.
Tranh chấp đất đai tính án phí theo giá đất nhà nước hay giá thị trường?
Giá trị tài sản để tính án phí là giá trị được xác định trong vụ án, do các bên thống nhất hoặc qua định giá theo quy định tố tụng. Cách định giá, căn cứ nào được dùng, phụ thuộc quy định hiện hành và tình huống cụ thể. Bạn nên hỏi toà hoặc luật sư khi vụ đất có giá trị lớn.
Vụ kiện có cả phần đòi tiền và phần không đòi tiền thì nộp tạm ứng thế nào?
Thông thường mỗi phần được xem xét theo nguyên lý của nhóm mình: phần đòi tiền tính theo giá trị, phần không đòi tiền tính theo mức của loại vụ không có giá ngạch. Thông báo nộp tạm ứng của toà sẽ ghi tổng số tiền; nếu cần, bạn có thể hỏi toà cách tính từng phần.
Vụ kinh doanh thương mại có khác vụ dân sự về án phí không?
Có. Biểu án phí tách riêng vụ dân sự, hôn nhân gia đình, kinh doanh thương mại và lao động. Cùng giá trị yêu cầu, vụ kinh doanh thương mại có thể có mức khác vụ dân sự. Việc vụ nào là kinh doanh thương mại do tính chất các bên và mục đích giao dịch quyết định, toà sẽ xác định khi thụ lý.
Sau khi định giá, án phí thay đổi thì có phải nộp thêm không?
Có thể. Khi giá trị được xác định khác với mức tạm tính lúc đầu, án phí cuối cùng trong bản án tính theo giá trị đã xác định. Phần chênh lệch được xử lý trong bản án: người phải chịu nộp thêm, hoặc được trả lại phần dư từ khoản tạm ứng đã nộp.